AT&T

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014
2
AT&T

Phép màu của Thế kỷ 19




• Người sáng lập:                                  Alexander Graham Bell, Gardiner Hubbard và
Thomas Sanders

• Logo:


• Vị trí trong nền kinh tế thế giới:           Hạng 27 (Fortune 500 – năm 2007)

• Nét đặc trưng:                                           Nhà  tiên phong trong cuộc cách mạng ngành
 truyền thông

• Sản phẩm chính:                                       Mạng hữu tuyến, vô tuyến (wireless), Internet, truyền hình cáp
• Doanh thu:                                                  63 tỉ đô-la (năm 2007)
• Lợi nhuận:                                                 
7,36 tỉ đô-la (năm 2007)
• Số nhân viên:                                              
309.000 người (năm 2007)
• Đối thủ chính:                                              
America Online, MCI WorldCom, Sprint
• Chủ tịch kiêm CEO:                                    
Lendall L. Stephenson (năm 2007) 
• Trụ sở chính:                                     
San Antonio, Texas, Hoa Kỳ
• Năm thành lập:                                  
1877
• Website:                                              
www.att.com

Nếu có phép lạ nào đó giúp con người có thể nghe được tiếng nói
của nhau từ những khoảng cách vài trăm mết đến vài chục ngân ki-lô-
mết thị đó chính là “phép lạ” mà AT&T, cùng với Graham Bell, người
khai sinh ra công ty này, đã mang đến cho nhân loại. 

       AT&T (Công ty Điện thoại và Điện tín Hoa Kỳ - American Telephone
& Telegraph Company) cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp và truyền
thông Internet, truyền dữ  liệu–hình ảnh–âm thanh đến các doanh
nghiệp và người tiêu dùng cũng như các cơ quan nhà nước. Trong lịch
sử phát triển của mình, AT&T đã từng là công ty điện thoại lớn nhất thế
giới, nhà điều hành mạng truyền hình cấp lớn nhất thế giới, cũng như
từng là một công ty độc quyền được Chính phủ Mỹ bảo hộ.   

     Những kỹ thuật truyền thông hiện đại được hầu hết mọi người
công nhận là dấu hiệu nhận biết rõ ràng nhất của một xã hội phát
triển. Và, không có  tập đoàn hay công ty nào có  thể  qua mặt được
AT&T trong lĩnh vực này. Công ty Điện thoại và Điện tín (American
Telephone & Telegraph) lâu đời và nổi tiếng thế giới AT&T vẫn luôn
đi tiên phong trong mọi bước phát triển của ngành kinh doanh thiết
yếu ngày càng lớn mạnh và phức tạp này – từ sự ra đời của chiếc điện
thoại đầu tiên của “Vua sáng chế” Alexander Graham Bell
 Alexander Graham Bell (1847 - 1922): Nhà phát minh, sáng chế vĩ đại nười Mỹ, ông là ông tổ của điện
 thoại, máy hát dĩa, …


vào cuối thế kỷ 19 cho đến lúc phải xây dựng lại từ đầu dưới áp lực từ phía
chính phủ vào giai đoạn gần cuối thế kỷ 20. Và công ty đang tái cấu
trúc một lần nữa để chuẩn bị tiền đề nhằm tạo thêm một dấu ấn mới
cho riêng mình trong thế kỷ 21. 

     Công ty Điện thoại và Điện tín Hoa Kỳ (AT&T) từng là công ty mẹ
của một công ty được độc quyền hợp pháp có  tên là  Ma Bell - một
công ty đã độc chiếm thị trường đồng thời cung cấp cho Hoa Kỳ dịch
vụ điện thoại tốt nhất thế giới. Nhưng địa vị độc tôn của nó luôn làm
cho những quan chức đầu ngành và các đối thủ cạnh tranh cảm thấy
khó chịu, và kết quả là nó bị chia cắt bằng một chính sách chống độc
quyền của Chính phủ Hoa Kỳ. Mặc cho những e ngại về một hậu quả
khủng khiếp có thể xảy ra cho cả hai: công ty và cơ sở hạ tầng truyền
thông mà  nó  đã  dày công tạo dựng, một AT&T mới được thành lập
một lần nữa và tiếp tục dẫn đầu ngành công nghiệp này với tư cách
là  nhà  cung cấp thiết bị và  dịch vụ  thống nhất, tập trung vào việc
phát triển các dịch vụ điện thoại đường dài. Khi thị trường thay đổi,
nó lại tiến thêm một bước nữa vào ba hướng kinh doanh chính, tập
trung vào dịch vụ truyền tải giọng nói, dữ liệu và hình ảnh.
Với hơn 80 triệu khách hàng tại Mỹ, AT&T đứng vững ở ngửi vị
độc tôn trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Không còn nghi ngờ gì
nữa, mọi thứ  đã  thay đổi kể  từ  lúc Bell mở  đầu cuộc cách mạng
truyền thông bằng câu nói đầu tiên của loài người qua đường dây
cáp: “Ngài Watson, hãy đến đây, tôi cần ông!”(1)
(1) Năm 1875, nhờ sự giúp đỡ tài chính của hai người bạn, Sanders và Hubbard, Bell đã thuê Thomas Edison, một nhà phát minh lỗi lạc khác của thế giới, làm trợ lý cho ông để cùng thực hiện các thí nghiệm về điện tín.. Công ty mà ông đã tạo
dựng nhằm truyền phát minh của mình đi khắp cả nước giờ đây đang
cung cấp rất nhiều dịch vụ truyền thông nội hạt, đường dài và truyền
thông không dây, bên cạnh dịch vụ  truyền hình cáp và  truy cập
Internet tốc độ cao. Người sáng lập ra AT&Tỏ chắc hẳn đã không tưởng
tượng ra được những bước phát triển vượt bậc như thế.
Dù vậy, việc kinh doanh và thương trường ngày nay luôn có rất
nhiều biến động, và những người nối nghiệp ông lại đang phải tiếp
tục vật lộn với những đổi mới mà họ hy vọng rằng chúng sẽ giúp họ
đương đầu được với những biến đổi có thể xảy ra bất cứ lúc nào, trong
cả lĩnh vực công nghệ lẫn cạnh tranh để giành thị trường.

***

       Alexander Graham Bell đã cố gắng chế tạo một phiên bản hoạt
động bằng giọng nói của chiếc máy điện baáo… và  đã  thành công
ngoài mong đợi. Sau khi có được bằng sáng chế đối với thiết bị bước
ngoặt này nhờ  những nỗ  lực không mệt mỏi của mình, ông và  hai
đồng sự khác thành lập nên Công ty Điện thoại Bell vào năm 1877.
 Một năm sau, họ ký kết hợp đồng mua bán điện thoại đầu tiên ở New
Haven, Connecticut. Dưới sự lãnh đạo của Theodore Vail, người giữ
chức vụ giám đốc điều hành tối cao của Bell từ năm 1878 đến 1887,
công ty đã tiến hành cổ phần hóa. Họ đã chống đỡ được những thách
thức liên tiếp xuất phát từ các đối thủ tiềm tàng bằng cách ký kết các
hiệp ước không mang tính cạnh tranh cao, hoặc đơn giản là sáp nhập
với các công ty đó.


“ Máy điện thoại” của Công ty 
Điện thoại Bell năm 1877 "

 Vào năm 1881, Vail đã lắp đặt các tổng đài điện thoại theo giấy
phép vận hành (bản quyền) của AT&T trên hầu hết các thành phố lớn
nhỏ  của Mỹ. Hai năm sau đó, ông giành được quyền kiểm soát
Western Electric và biến nó thành một xưởng sản xuất của AT&T. Sau
cùng ông mở thêm một bộ phận kỹ thuật cơ khí, và nó đã phát triển
thành Trung tâm phát triển sản phẩm Bell huyền thoại. Toàn bộ hoạt
động kinh doanh của ông bắt đầu được biết đến dưới tên gọi Hệ thống
Bell (Bell System) và chẳng bao lâu sau đó AT&T tuyên bố rằng họ
đạt doanh thu đến 10 triệu đô-la với 155.000 khách hàng có thể gọi
cho nhau qua hệ thống điện thoại. Sau khi được tái cấu trúc vào năm
1885, Vail bắt đầu quá trình xây dựng một mạng lưới trên toàn quốc
để cung cấp cho nước Mỹ một dịch vụ điện thoại đường dài tốt nhất.

     Vail trở thành chủ tịch của AT&T sau tái cấu trúc, nhưng những
bất đồng với các cố  vấn kinh tế  của công ty đã  khiến ông phải từ
nhiệm hai năm sau đó. Dù vậy, công ty vẫn tiếp tục phát triển theo
đường lối mà ông đã đặt ra và không ngừng xây dựng hệ thống truyền
thông đường dài có quy mô toàn quốc, mà điểm bắt đầu của hệ thống
này là  New York. Nó  vươn đến Chicago vào năm 1892, Denver vào
năm 1899, và San Francisco vào năm 1915. Trung tâm phát triển sản
phẩm Bell liên tục có những cải tiến vượt bậc để nâng cao chất lượng
các cuộc gọi đường dài và  ngày càng có  uy tín trong lĩnh vực phát
triển, hoàn thiện các sản phẩm liên quan đến truyền thông. Tuy vậy
rất nhiều đối thủ cạnh tranh vẫn đe dọa sự thống trị của tập đoàn này.

      Với việc các bằng sáng chế của Bell đang dần hết hạn và các nhà
doanh nghiệp ở khắp nơi đang tấn công vào thị trường kinh doanh
điện thoại, các sản phẩm cải tiến và dịch vụ đường dài là không đủ
để đảm bảo cho tương lai của AT&T. Trong giai đoạn từ năm 1894 đến
1904, hơn 6.000 công ty điện thoại độc lập đã bắt đầu hoạt động làm
tăng nhanh số lượng điện thoại đang sử dụng, từ 300.000 đến hơn 3
triệu chiếc. Nhiều khu vực của Mỹmới đón nhận dịch vụ này lần đầu
tiên, nhưng một số khu vực khác lại có hai hay nhiều nhà cung cấp
tranh giành lẫn nhau cùng hoạt động. Thật không may, phần lớn các
nhà cung cấp dịch vụ này lại có hạ tầng kỹ thuật không tương thích
với nhau, và  thuê bao của dịch vụ  này không thể  gọi cho người sử
dụng dịch vụ  của một công ty khác. Cùng lúc đó, Vail quay về  lại
AT&T ở cương vị Chủ tịch, và với bản năng nhạy bén của mình, ông
đã đưa công ty vượt lên.

      Trong suốt 20 năm xa AT&T, Vail nghiệm ra rằng hệ thống điện
thoại của cả nước sẽ hoạt động hiệu quả nhất nếu được chính phủ bảo
hộ độc quyền. Ông đã đề xuất ý tưởng này trong bản thông báo hằng
năm của AT&T vào năm 1907 và  còn kèm theo một chiến dịch quảng
cáo rầm rộ nhấn mạnh rằng đây là cách duy nhất mà công ty có thể
vận chuyển các đường dây kết nối điện thoại theo nhu cầu của cả
chính phủ lẫn người dân. Với khẩu hiệu “một hệ thống, một chính sách,
dịch vụ toàn cầu”, ông đã truyền đạt thành công thông điệp của mình
đến từng hộ gia đình. Cuối cùng chính phủ cũng chấp nhận đề xuất
của ông trong một chấp thuận vào năm 1913, được biết dưới tên gọi
Đạo luật Kingsbury. Cùng một số điều khoản khác, Đạo luật này yêu
 cầu AT&T kết nối những công ty điện thoại hoạt động độc lập khác vào
mạng lưới của nó. Trước khi Vail về  hưu vào năm 1919, Đạo luật
Kingsbury cuối cùng đã đưa công ty của ông đến một vị trí độc tôn
trong ngành kinh doanh điện thoại ở Mỹ và mở đường cho sự thành
công trên thị trường quốc tế.

        AT&T vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ sau khi Vail về hưu. Công
ty tham gia vào những lĩnh vực mới mẻ khác, chẳng hạn như phát
sóng radio, nhưng ban lãnh đạo mới của công ty muốn tập trung vào
việc cung cấp dịch vụ điện thoại cho mọi người dân Mỹ. Không bao
lâu sau, AT&T đã giảm bớt phần lớn tiền của đầu tư vào các dự án bên
lề này. Để tiếp tục tiến đến mục tiêu kết nối toàn cầu cho tất cả khách
hàng của mình, công ty đã mở ra vài dịch vụ mới, ví dụ như đường
dây xuyên Đại Tây Dương đến London. Mặc cho cái giá 75 đô-la cho
năm phút gọi khi dịch vụ mới được bắt đầu vào năm 1927, dịch vụ
này phổ biến đến mức không lâu sau đó nhiều thành phố khác ở châu
Âu cũng được kết nối với Hoa Kỳ. Những bước cải tiến như vậy, cùng
với đặc quyền bảo hộ của chính phủ, đã nhanh chóng giúp AT&T trở
thành tập đoàn đầu tiên trên thế giới có doanh thu hàng năm đạt đến
con số 1 tỉ đô-la.

       Đến Thế chiến II, Bell đã sản xuất ra 90% tổng số thiết bị điện
thoại trên toàn nước Mỹ và nắm giữ 98% thị phần dịch vụ điện thoại
đường dài. Số người Mỹ sử dụng điện thoại cũng tăng lên như AT&T
đã hứa hẹn, đạt 50% vào năm 1945, 70% vào năm 1955 và 90% vào
năm 1969. Nhưng ngay cả việc trang bị cho mỗi hộ gia đình ở Mỹ một
chiếc điện thoại cũng không thể  khiến chính quyền liên bang thôi
ray rứt về một đạo luật quá cố lợi cho AT&T nhiều thập niên về trước.
Cuối cùng, họ đã ra tay vào năm 1949, với Bộ luật chống độc quyền
Sherman. Điều này đã dẫn đến một sắc lệnh năm 1956 buộc AT&T
phải giới hạn sự tham gia của mình trong các hoạt động của hệ thống
điện thoại quốc gia.

      Đến thập niên 1960, khi vài công ty mới nổi được phép kinh
doanh một dịch vụ điện thoại không dây mới và mở ra những dịch vụ
 đường dài dựa trên sóng siêu âm. Trong trào lưu đó, AT&Tỏ  đã  trở
thành công ty lớn nhất trên thế giới– với số  nhân viên lên đến gần 1
triệu người và  thu lợi nhuận còn nhiều hơn cả  tập đoàn General
Motors, Exxon và  Mobil cộng lại. Các nhà chức trách liên bang cảm
thấy ngày càng khó  chịu với việc công ty nắm giữ 80% thị phần của
thị trường truyền thông Mỹ. Và thế là  vào năm 1974, Bộ  Tư pháp Mỹ
đã đưa ra một bộ luật đặt dấu chấm hết cho Ma Bell


      
Các tổng đài viên của Bell Systems 
năm 1952
    *** 
    Trong khi các tranh tụng pháp lý vẫn tiếp diễn, AT&T nhận thức
rằng họ chắc chắn sẽ bị buộc từ bỏ 22 công ty con mà qua các công
ty này họ cung cấp dịch vụ điện thoại quốc nội của mình. Với việc
công bố tầm nhìn tương lai vào “ngành kinh doanh xử lý thông tin”,
họ chuẩn bị những bước đi mới cho ngày mà công ty không còn sự
bảo hộ của chính phủ. Và  đúng như AT&T dự đoán, năm 1982, họ bị
buộc phải từ bỏ sự độc quyền của mình đối với các tổng đài điện thoại
trong nước, nhưng vẫn được phép duy trì các bộ phận dịch vụ đường
dài, sản xuất và nghiên cứu cũng như phát triển công nghệ. Sau đó
Bộ Tư pháp Mỹ đồng ý dỡ bỏ Điều luật 1956 và vào ngày 01 tháng 01
năm 1984, một công ty AT&T mới được ra đời một lần nữa – cùng với
nó là bẫy công ty con “Baby Bell” hoạt động độc lập.

     Đây là sự chia cắt lớn nhất của một công ty kể từ sau vụ Standard
Oil năm 1911 và nó đã bị phản đối dữ dội từ nhiều phía. Có người cho
rằng dịch vụ điện thoại sẽ bị chấm dứt vĩnh viễn; những người khác
lại nói điều này sẽ khiến lượng người tiêu dùng và các chỉ số gia tăng
bị giảm sút nghiêm trọng. Lúc bấy giờ một ngày có đến 800 triệu cú
điện thoại được thực hiện trên toàn nước Mỹ, và nguy cơ đã hiển hiện
trước mắt. Nhưng rồi các mối lo cũng qua đi một cách êm thấm, tương
tự như thảm họa máy tính Y2K vậy. AT&T vẫn lớn gấp đôi so với đối
thủ nguy hiểm nhất của nó trong cùng lĩnh vực kinh doanh về cả vốn
liếng, kỹ thuật, lẫn nhân lực. Trong thập kỷ kế tiếp, họ đã tận dụng
nguồn lực dồi dào của mình để trở thành nhà cung cấp chính cho các
dịch vụ truyền thông, mạng lưới thiết bị và máy tính. Để đẩy mạnh
cho mục tiêu này, năm 1995 công ty thông báo sẽ tách ra một lần nữa,
lần này là thành 3 công ty con: AT&T, chuyên cung cấp dịch vụ điện
thoại đường dài và các dịch vụ truyền thông khác; Viện nghiên cứu
Lucent, chế tạo và kinh doanh điện thoại, các thiết bị chuyển đổi mạng
lưới, vi mạch máy tính và các phần cứng khác; và tập đoàn NCR, một
công ty máy tính mà họ đã mua bốn năm trước đó.

     C. Michael Armstrong đảm nhận cương vị Chủ tịch kiêm CEO vào
năm 1997, và chỉ trong vòng một năm ông đã đưa công ty theo một
hướng đi khác bằng cách mua lại TCI, nhà cung cấp truyền hình cáp
lớn nhất nước Mỹ. Sau đó ông ta đã đưa ra những kế hoạch nhằm kết
hợp các tiện ích truyền thông đa dạng của AT&T với đường truyền
hình cấp, dịch vụ điện thoại trong nước và đường dài, cùng với đường
truyền Internet tốc độ  cao. Năm tiếp theo ông lại mở  rộng hoạt
động kinh doanh bằng cách hình thành một liên minh với tập đoàn
British Telecom để  cung cấp dịch vụ điện thoại không dây trên toàn
thế giới.



     Tuy đạt được một số thành tựu khả  quan dưới thời Armstrong,
nhưng khi bước sang thế  kỷ mới, AT&T phát triển một cách khá  trì
trệ. Người đứng đầu trước đó  của TCI đã có ý muốn mua lại công ty
đã từng thôn tính công ty của ông
ta, và đã có những suy đoán rằng Armstrong sẽ buộc phải phân chia
công ty của mình một lần nữa.

     Ngày 31/01/2005, SBC (Southwestern Bell Corporation) tuyên
bố mua lại AT&T Corp. Ngày 30/06/2005, các đại cổ đông của AT&T
đã họp tại Denver và đồng ý bán công ty. Bộ Tư pháp Mỹ đã làm rõ
hồ sơ và Ủy ban Truyền thông Quốc hội Mỹ đã chuẩn thuận đề nghị
của SBC và AT&T vào ngày 31/10/2005. Cuộc sáp nhập chính thức
bắt đầu kể từ ngày 18/11/2005.

    Ngày 29/12/2006, Ủy ban Truyền thông Quốc hội Mỹ chấp thuận
cuộc sang nhượng BellSouth với giá 86 tỉ đô-la và liên doanh mới vẫn
giữ lại tên gọi AT&T. Cuộc hợp nhất này góp phần củng cố quyền sở
hữu cả hai bộ phận Cingular Wireless và Yellowpages.com, một thời
là một liên doanh giữa BellSouth và AT&T. 

   Giữa năm 2007, Chủ  tịch kiêm CEO mới của AT&T Randall
Stephenson bắt đầu thảo luận về trọng tâm lấy công nghệ và dịch vụ
không dây (wireless) làm nền tảng mới cho sự  phát triển của một
AT&T “mới”, bao gồm các loại hình đa phương tiện mới như
VideoShare, U-verse và  đưa Internet tốc độ  cao đến các vùng nông
thôn xa xôi hẻo lánh của Mỹ. Đồng thời Stephenson tiếp tục mua
thêm một số  công ty khác như Dobson Communications vào ngày
29/06/2007, Interwise vào ngày 02/11/2007 với giá 121 triệu đô-la,
và mua lại làn sóng 700MHz từ Aloha Partners vào ngày 09/10/2007
với giá 2,5 tỉ đô-la. 

    Trong cuộc chơi toàn cầu ngày nay, dù kết quả cuối cùng có như
thế  nào với AT&T thị vai trò  và  sứ  mạng lịch sử  của công ty này
trong sự phát triển một thế giới hiện đại của chúng ta là một điều
không thể chối cãi.





Read more ...

HÃNG Ô TÔ FORD

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014
3
HÃNG Ô TÔ FORD
Nhân loại đi nhanh hơn và xa hơn nhờ những
chiếc xe mang nhãn hiệu Ford



   Nếu AT&T từng tạo ra “phép màu” giúp đôi tai nhân loại trở nên

“thính” hơn trước những khoảng cách tưởng như vô tận thị Ford Motors
đã biến ước mơ của con người về “đôi hia vẩn dặm” trở thành sự thật.
Mọi khoảng cách về  địa lý  và  thời gian đều bị rút ngắn bởi những ý
tưởng “thay đổi cả thế giới” của Ford. 

     Dấu ấn rõ nét nhất của Tập đoàn  ô tô Ford là  việc Henry Ford đã  áp dụng
phương pháp “dây chuyền sản xuất hàng loạt”. Bước cải tiến tuy đơn giản nhưng cực kỳ hiệu quả này đã thay đổi hoàn toàn khái niệm “sản xuất và lắp ráp”. 
Sau khi ra đời, Ford Corp. đã nhanh chóng trở thành một người khổng lồ  trên
thế  giới, một cỗ  máy tổng hợp với các quy trình khép kín của một trong những 
nhãn hiệu  ô tô nổi tiếng nhất hành tinh. 
Henry Ford (1863 – 1947)
         Ngày nay Ford đang tạo dựng một hình ảnh mới mẻ
và có phần đáng ngạc nhiên với phương châm bảo vệ môi trường.

       Trong một ngành công nghiệp tưởng như không bao giờ có thể đi
cùng hướng với  việc bảo vệ môi trường, nhiều người xem bước đi này
của Ford là vô cùng kỳ lạ. Bước chuyển biến mới này được bắt đầu
vào tháng 5 năm 2000, khi vị chủ tịch tập đoàn mới được bổ nhiệm
William Clay Ford, Jr. – cháu cố của nhà sáng lập Henry Ford – lần
đầu tiên thừa nhận rằng các loại xe dạng thể thao gây ö nhiễm nhiều
hơn xe bình thường và có thể gây tác hại lâu dài cho những người lưu
thông trên đường phố. Ông trịnh trọng tuyên bố  rằng Ford sẽ  sản
xuất ra những chiếc xe kiểu mới, sạch hơn và  thân thiện với môi
trường hơn. Ông còn cam kết giảm thiểu độ tiêu hao nhiên liệu của
sản phẩm Ford xuống 25% trong vòng năm năm kế tiếp và thách thức
các đối thủ cạnh tranh khác làm được như vậy.

       Những sáng kiến này đã vấp phải nhiều sự nghi ngờ về tính khả
thi, nhưng Ford rất giỏi trong việc nắm bắt tâm lý khách hàng và thay
đổi sản lượng một cách hợp lý. Dòng xe Model T, tiếng vang đầu tiên
của công ty, đã thống trị thị trường  ô tô thời kỳ đầu bằng việc cung
cấp một phương tiện đi lại tiết kiệm và đáng tin cậy cho giới trung và
thượng lưu. Khi sản lượng bán ra bắt đầu chậm lại, Ford chuyển sang
sản xuất những dòng sản phẩm có  bề  ngoài bắt mắt và  nhiều tiện
nghi hơn. Họ giới thiệu các dòng sản phẩm mới, trở thành một trong
những nhà sản xuất  ô tô đầu tiên phát triển rộng rãi đến các châu lục
khác, hiện đại hóa thiết bị sản xuất, mở ra một công ty con chuyên
đảm trách các hoạt động tài chính, thậm chí Ford còn mua lại những
công ty  ô tô nhỏ khác nhằm mở rộng thị phần của mình.


Ford Model-T, 1925

      Ngày nay, bên cạnh các nhãn hiệu xe hơi nổi tiếng khác như Aston Martin,
Jaguar, Lincoln, Mercury, Land Rover… Ford còn là nhà sản xuất xe tải hàng
 đầu thế giới, và  đứng thứ  hai về  sản xuất xe hơi nói chung. Bộ phận tín dụng
 của Ford là công ty tài chính  ô tô hàng đầu của Mỹ. Và, theo yêu cầu của 
người tiêu dùng, công ty đang dẫn đầu ngành công nghiệp trong việc hướng
đến sản xuất các sản phẩm không gây ö nhiễm môi trường.

                                                             ***
        Hãng  ô tô Ford chính thức hoạt động vào năm 1903, khi Henry
Ford và 11 cộng sự góp vốn 28.000 đô-la để mở một xưởng sản xuất
rất khiêm tốn trong một nhà máy lắp ráp máy bay cũ kỹ ở Detroit.
Với cương vị là giám đốc kiêm kỹ sư trưởng, Ford đã trông đợi điều
này gần như suốt cuộc đời mình. Vài tuần sau, ông bán chiếc Ford
Model A hai xi-lanh cho một nha sĩ ở Chicago và trong vòng 14 tháng
tiếp theo, ông đã bán ra 1.700 chiếc khác.


                Ford GT90 - 2007                               Ford Taurus - 2008

     Sinh năm 1863 ở Greenfield Township, Michigan, thời niên thiếu

Henry Ford là một cậu bé thích theo đuổi lĩnh vực cơ khí hơn là việc
nông trang - công việc mà ông được mong đợi là sẽ cùng làm với năm
người em của mình. Số phận của ông lên tiếng gọi vào năm Ford 13
tuổi, khi ông thấy một cỗ máy hơi nước tự vận hành. Ford đã nhảy ra
khỏi chiếc xe ngựa mà ông đang đi với cha để ngắm nghía nó và ngay
lập tức quyết định rằng mình sẽ trở thành một kỹ sư cơ khí. Ba năm
sau ông đến Detroit và làm thợ máy tập sự cho Hãng  ô tô Michigan.
Sau hai năm, ông nhận một vị trí tốt hơn: kỹ sư cho Công ty Edison
Illuminating.

     Trong khi làm việc ở Edison, Ford bắt đầu nghiên cứu chế tạo một
chiếc xe chạy bằng động cơ xăng. Vào năm 1896, ông sản xuất ra
chiếc xe đầu tiên của mình: chiếc Quadricycle, có bốn bánh như bánh
xe đạp, một vô-lăng để  lái, hai bánh truyền động nằm phía trước.
Nhằm tập trung hoàn toàn vào việc cải tiến những ý tưởng của mình,
ông rời khỏi Edison vào năm 1899 để mở Công ty Detroit Automobile.
Công ty này hoạt động không thành công và một công ty thứ hai được
thành lập hai năm sau đó cũng có kết cục tương tự. Nhưng ở lần thứ
ba, với một công ty mang chính tên ông và có đủ số vốn để giải quyết
những khó khăn tài chính ban đầu, ông đã gặt hái được những thành
công vang dội.

      Những năm đầu thật sự là quãng thời gian phát triển vô cùng mạnh
mẽ của Hãng Ford. Họ mở Chi nhánh Ford - Canada chỉ một năm sau
ngày thành lập. Vào năm 1907, công ty đã xuất khẩu xe hơi sang châu
Âu. Trong vòng mười năm sau đó, họ đã có trong tay những nhà
máy sản xuất ở  Úc, Nam Phi và  Nhật Bản. Trong khi đó, Henry Ford vẫn
không ngừng đưa ra những thiết kế  mới. Ông dùng những ký tự  nối tiếp 
nhau trong bảng chữ cái để đặt tên cho các mẫu thiết kế này, dù nhiều bản
thiết kế không bao giờ được đưa vào sản xuất. Một trong những mẫu
thiết kế được sản xuất là dòng xe Model N, một chiếc xe mạnh mẽ với
bốn xi-lanh và có giá bán 500 đô-la. Vì ông phải chịu trách nhiệm gần
như hoàn toàn cho những sản phẩm đầu tiên này nên không có gì ngạc
nhiên là Ford nhanh chóng trở thành Chủ tịch công ty và là chủ sở hữu
chính của hãng.

Ford Quadricycle 1896 - 
Một trong những chiếc “xe hơi” đầu tiên của nhân loại

     Bước ngoặt lớn mở ra vào năm 1909 khi Henry Ford công bố dòng
xe Model T. Còn được biết đến dưới tên gọi Tin Lizzie, nó đã thật sự
gây được sự chú ý của công chúng và Ford nhanh chóng nhận được
10.000 đơn đặt hàng cho sản phẩm này. Nhu cầu thị trường buộc ông
phải mở  một xưởng sản xuất lớn hơn gần khu vực Highland Park.
Nhưng hướng giải quyết này cũng không bắt kịp tiến độ thị trường
đòi hỏi vì quy trình sản xuất lúc ấy đòi hỏi từng công nhân riêng lẻ
phải lắp ráp toàn bộ một chiếc xe trước khi chuyển sang lắp ráp chiếc
khác. Ford đã dùng kỹ năng cơ khí của mình để giải quyết vấn đề, và
vào năm 1913, ông tìm ra một cách để tăng tốc độ sản xuất bằng cách
sử dụng và phát triển một bước cải tiến mới trong sản xuất gọi là dây
chuyền lắp ráp. Ban đầu, các công nhân đi từ một chiếc xe đã hoàn
thành một phần đến một chiếc khác chỉ để gắn một bộ phận giống
nhau – và cứ như thế; sau cùng, Ford đã cải tiến kỹ thuật này bằng
cách đặt mọi thứ vào băng chuyền để các phần của chiếc xe và bản
thân chiếc xe được chuyển thẳng đến từng công nhân. Hệ thống này
làm việc hiệu quả  đến mức chỉ trong một năm Ford đã  có  thể  sản
xuất được 168.000 chiếc xe hơi – giúp dòng xe Model T chiếm lĩnh
một phần ba thị trường  ô tô trên toàn nước Mỹ.

      Dù vậy, Ford vẫn không dừng bước. Ông mua lại cổ phần của các
đối tác trong công ty và xây dựng khu phức hợp công nghiệp lớn nhất
thế giới. Ông mua lại công ty  ô tô Lincoln và bắt đầu sản xuất xe tải,
xe kéo, và cả máy bay. Thậm chí ông còn ra tranh cử chức nghị sĩ,
nhưng việc này không thành công. Và khi lượng xe Model T bán ra
sút giảm vì cạnh tranh quyết liệt sau khi chiếc xe thứ một triệu được
sản xuất, Ford đã phát triển một phiên bản nhanh hơn và nhiều tiện
nghi hơn, với tên gọi giống sản phẩm đầu tiên của Ford. Dòng xe
Model A mới này được ra mắt vào năm 1927, và  400.000 đơn đặt
hàng đã được gửi tới, thậm chí trước khi quy trình kỹ thuật sản xuất
dòng xe này được bắt đầu. Gần hai triệu chiếc xe đã được bán hết cho
đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ hai năm sau đó.

      Nhưng ngay cả  cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế  thế  giớicũng
không cản nổi bước tiến của Henry Ford. Ông tiếp tục giới thiệu động
cơ V-8 đầy sức mạnh và dòng xe trung cấp Mercury. Đây là sản phẩm
có lượng bán ra tăng liên tục cho đến khi Thế chiến II làm cho việc sản
xuất các dòng xe dân dụng bị đình trệ. Trong chiến tranh, các xưởng
sản xuất của Ford đã cho ra đời máy bay ném bom B-24, xe jeep, xe
tăng và các máy móc quân dụng khác. Và vào năm 1945, xe chở khách
xuất hiện trở lại trên dây chuyền sản xuất của ông. Henry Ford qua đời
hai năm sau đó ở tuổi 83 và không có nhiều thời gian để tận hưởng hết
sự hồi sinh này.

     Tuy nhiên, dây chuyền sản xuất mà ông phát minh tiếp tục vận
hành một cách trơn tru. Những thiết kế cải tiến như dòng xe thể thao
Thunderbird được ra mắt thường xuyên, và không lâu sau, công ty cổ
phần hóa vào năm 1956 bằng cuộc phát hành cổ phiếu rầm rộ để kỷ
niệm chiếc xe thứ 50 triệu được sản xuất. Người chấu Henry Ford II
đã lên thay vị trí của ông, và trách nhiệm kinh doanh dần dần được
chuyển sang những người có  tư tưởng đối nghịch, như Robert
McNamara (người từ chức vào năm 1961 để trở thành Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng Mỹ) và Lee Iacocca (ra đi vào năm 1978 để nắm giữ chức
Chủ tịch Hãng Chrysler). Một chuỗi những năm tháng không thành
công nối tiếp sau đó – như điều đã xảy ra với tất cả các công ty sản
xuất  ô tô khác của Mỹ – vì có sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh
ngày càng nhiều và mạnh mẽ đến từ Nhật Bản. Nhưng những mẫu xe
cải tiến, như Taurus hay Escort, cùng với dòng xe tải nhỏ F đã giúp
Ford trở lại với cuộc đua. Vào năm 1986, lần đầu tiên trong sáu thập
kỷ doanh thu của công ty đã qua mặt General Motors và họ đã mua lại
Aston Martin, Jaguar cùng một số công ty khác. Tuy nhiên, chỉ năm
năm sau, một giai đoạn bất ổn và trì trệ đã khiến Ford phải đón nhận
năm kinh doanh thua lỗ lớn nhất trong lịch sử hoạt động của mình.

                                                     ***
Dòng xe Thunderbird của Ford

      Từ  giữa thập niên 90 của thế kỹ  trước, khi Ford sản xuất chiếc
xe thứ  250 triệu, công ty đã  thực hiện hàng loạt thay đổi triệt để
nhất kể từ khi Henry áp dụng dây chuyền lắp ráp của mình vào sản
xuất. Một trong những thay đổi lớn nhất là  Ford 2000, một kế  hoạch
đầy tham vọng bao gồm sự phát triển các thiết kế mới, một bản thỏa
thuận với Nissan để bán xe Ford ở Nhật, và ký hợp đồng với Hertz,
công ty cho thuê xe lớn nhất thế  giới. Những bước đi này nhanh
chóng được tiếp nối với việc mua lại dây chuyền bảo dưỡng xe  ô tô
lớn nhất châu Âu và những kế hoạch cho một nỗ lực tương tự ở Mỹ.
Việc mua lại Hãng xe Volvo của Thụy Điển đã bổ sung cho Ford một
dòng xe cao cấp cùng với sự  có  mặt ngày càng nhiều ở  châu Âu.
Những bước đi mạnh mẽ vào các thị trường tiềm năng và chưa được
để  ý  nhiều như Trung Quốc, Ấn Độ  và  Việt Nam được gấp rút tiến
hành. Việc gia nhập các dự  án kinh doanh với Microsoft và
Priceline.com để bán xe hơi trên mạng Internet cũng được thực hiện.

      Ngoài ra Ford còn bắt đầu sử dụng máy tính để giảm chi phí và
thời gian phát triển cho tất cả mọi thứ, từ việc giả lập các vụ đụng xe
đến thiết kế ban đầu của xe. Cần nói thêm rằng, để thí nghiệm một
vụ đụng xe, Ford phải bỏ ra 60.000 đô-la cho một lần thử vào năm
1985, nhưng hiện nay với phần mềm giả lập trên máy tính, họ chỉ tốn
… 10 đô-la. Về thiết kế, một công việc từng tốn 12 người trong vòng
12 tuần để hoàn tất, giờ đây có thể được hoàn tất chỉ trong vòng ba
tuần với một người duy nhất. 

      Để đẩy mạnh sự hiểu biết về máy tính trong đội ngũ nhân viên,
Ford đã thông báo một chương trình hỗ trợ tài chính cho phép tất cả
các nhân viên mua một chiếc máy tính gia đình cùng với máy in màu
và đường truyền Internet mà chỉ phải trả góp 5 đô-la một tháng.
Chương trình gây chấn động nhất trong số này là nỗ lực mới được
bày tỏ của Ford để “kết hợp công nghiệp hóa với chủ nghĩa bảo vệ môi
trường”, như vị chủ  tịch này và  gia đình thừa kế  đã  nói trên tờ
Newsweek vào mùa xuân năm 2000 – nhưng đó khó có thể là điểm kết
thúc của quá trình chuyển biến đang diễn ra của Ford. Chỉ trong vòng
một tháng sau thông báo này, công ty đã trở thành một trong những
nhà sản xuất lớn của thế giới cung cấp một chế độ phúc lợi y tế trọn gói
cho người đối ngẫu (vợ hoặc chồng) của các nhân viên của mình. Một
tháng sau đó, công ty tuyên bố rằng họ bắt đầu chế tạo xe hơi trong các
xưởng sản xuất ở Nhật Bản, được điều hành bởi đối tác là Hãng Mazda.
Trước đó, vào tháng 09 năm 1995, Tập đoàn Ford Motor Việt Nam
và khai trương nhà máy lắp ráp tại tỉnh Hải Dương, với tổng diện tích
17.400 mvà công suất 14.000 xe một năm. Tổng vốn đầu tư của Ford
Việt Nam là 102 triệu USD, trong đó  Ford Motor góp 75% số  vốn và  
Công ty Diesel Sông Công Việt Nam có 25% vốn góp. 

  
Nhà máy Ford tại Hải Dương – Việt Nam
         Đây là  liên doanh  ô tô có  vốn đầu tư lớn nhất và cũng là một trong 
những dự  án đầu tư lớn nhất của Mỹ tại Việt Nam. Tổng số nhân viên tại 
Ford Việt Nam là hơn 580 nhân viên.

      Nhà máy Ford tại Hải Dương là nhà máy ô tô đầu tiên và duy nhất
tại Việt Nam được cấp cả  ba chứng chỉ chất lượng ISO 9001; ISO
14001 và QS 9000. Tháng 6 năm 2005, Ford Việt Nam cũng đã vượt
qua các kiểm định cần thiết và đạt tiêu chuẩn nhận chứng chỉ chất
lượng ISO:TS 16949 chuyên ngành công nghiệp  ô tô

      Năm 2005, các công ty chứng khoán đã đồng loạt định giá giảm trái
phiếu của cả Ford lẫn General Motors. Họ chỉ ra rằng chi phí phúc lợi
cho lực lượng lao động có tuổi, xăng dầu tăng giá, thị phần tan rã, doanh
thu lệ thuộc quá nhiều vào sản lượng xe thể thao bán ra, lợi nhuận của
các dòng xe hạng nặng giảm mạnh do chi phí “ngoài lề” tăng cao trong
nỗ lực vực dậy doanh söë… là một gánh nặng cho hai công ty này.
Tháng 01 năm 2008, Ford khai trương website một trang web liệt
kê 10 Quy tắc Không thể đánh bại của Ford (10 Ford Tough Rules) 
một chuỗi các trang web liên kết với chương trình truyền hình tương
tác COPS Show TV để quảng bá sâu rộng hơn nữa hình ảnh của họ. 

     Nếu còn sống, có lẽ Henry Ford không đồng ý với tất cả những
bước đi liên kết này, nhưng ông sẽ hài lòng vì nhờ đó, Ford Motors
vẫn duy trì vị trí hàng đầu một cách vững chắc trong nền công
nghiệp mà ông đã dồn hết tâm huyết để xây dựng từ đầu thế kỷ trước.

 Henry Ford đã nói:

“Không có việc gì là quá khó nếu bạn biết chia nhỏ nó ra.”

“NOTHING IS PARTICULARLY HARD IF YOU DIVIDE ITINTO SMALL JOBS.”







Read more ...